Danh nhân làng Kim Thư


Thám Hoa:
Vũ Phạm Hàm

Tài nguyên dạy học

Lịch

Danh Ngôn

Ảnh ngẫu nhiên

44250850_243946702939050_4050622367397838848_n.jpg IMG_3932.JPG IMG_3932.JPG Image.jpeg Image.jpeg Image.jpeg Image.jpeg Image.jpeg 23775681_346365289167746_6439696551408304128_n.flv 27188631_154661105322267_3088951981205618688_n.flv 23777742_145604159417600_8451178758605373440_n.flv 23602561_383412108755156_7405718637119537152_n.flv 23566487_927891230700700_7467121469563076608_n.flv Image.jpeg Image.jpeg Image.jpeg Image.jpeg Image.jpeg 45.jpg 34.jpg

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Hỗ trợ trực tuyến

    Sắp xếp dữ liệu

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >

    LỊCH SỬ HUYỆN THANH OAI

    Bài viết tham dự hội thảo khoa học

    Về lịch sử địa phương Hà Nội.

    LỊCH SỬ HUYỆN THANH OAI

    Nhằm chuẩn bị tài lệu cho hội thảo khoa học về lịch sử địa phương Hà Nội, Phòng giáo dục Đào tạo kết hợp với các đơn vị trường Tiểu học huyện Thanh  Oai viết bài với những nội dung nói về lịch sử huyện Thanh Oai.

    Vào triều Lý Cao Tông ( 1176-1210), năm 1207 địa danh hương Thanh Oai đổi là huyện Thanh Oai. Đây là vùng đất được tạo dựng bởi sự bồi tụ phù sa của dòng sông Hồng và sự thay đổi dòng chảy của dòng Hát Giang ngày trước. Đất đai ở huyện Thanh Oai thuộc diện phì nhiêu màu mỡ, lại có nguồn nhân lực dồi dào, có những nghề thủ công nổi tiếng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng đất Thanh Oai sớm có bề  dầy lịch sử dựng nước và giữ nước của nước Đại Việt, dựng xây làng xã trở thành một huyện trù phú, giàu bản sắc văn hoá dân tộc.

     Tìm hiểu về mặt địa lý tự nhiên và truyền thống văn hoá- lịch sử, Thanh Oai là một huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông hồng. So với các huyện của tỉnh Hà Đông cũ, địa bàn huyện Thanh Oai có vị trí trung tâm của tỉnh.Từ giữa năm 1965, khi hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây hợp nhất, Thanh Oai nằm  ở phía nam tỉnh Hà Tây.Từ năm 1976 đến năm 1991, Thanh Oai là một huyện của tỉnh Hà Sơn Bình. Từ năm 1992 đến tháng 7 năm 2008 Thanh Oai là một huyện của tỉnh Hà Tây. Từ tháng 8 năm 2008 Hà Nội mở rộng địa giới, Thanh Oai trở thành một huyện của Thành phố Hà Nội. nằm ở phía Tây nam Thủ đô Hà Nội, Địa bàn huyện Thanh Oai, phía Bắc liền kề với quận Hà Đông, phía đông là huyện Thường Tín, phía tây tiếp giáp với huyện Chương Mỹ, phía nam tiếp giáp với huyện Ứng Hoà và Phú Xuyên. Sự hình thành địa dư hành chính của huyện là cả một quá trình đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm để xây dựng quê hương, góp phần kiến tạo đất nước.

    Vùng đất Thanh Oai gắn liền với nền văn minh lúa nước sông Hồng, cũng chính là nề văn hoá Đông Sơn  ở thời đại các vua Hùng xây dựng nước Văn Lang, ở giai đoạn này, đất Thanh Oai thuộc bộ giao chỉ. Bằng chứng của vùng đất là vào những năm 1968, 1982, các nhà khoa học đã khai quật di chỉ ở xã Hữu Hoà, ở Bình Đà ( Bình Minh) và sau đó là ở Ước Lễ ( Tân Ước) phát hiện được những hiện vật bằng đá, một con giao găm bằng đồng và trống cổ. Theo các nhà khoa học, các di vật cổ tìm thấy ở Thanh Oai có niên đại cách đây 2.350 ± 100 năm, Thuộc nền văn hoá Đông Sơn, thời đại các vua hùng dựng nước.

    Như vậy việc phát hiện ra trống đồng cổ ở Bình Đà, Ước Lễ hiện vật bằng đá và giao găm bằng đồngơr Hữu Hoà đã minh chứng vùng đất Thanh Oai sớm là nơi quần cư của cộng đồng người Việt cổ ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Thời kỳ đất nước ta bị cai trị, qua nghìn năm Bắc thuộc đến khi Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán xưng Vương, mở đầu thời kỳ giành lại độc lập, vùng đất Thanh Oai là một bộ phận của quận Giao Chỉ.

    Từ khi đất nước ta giành được độc lập, địa dư hành chính huyện Thanh Oai

    từng bước được hình thành, gắn kiền với sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, dựng xây đất nước. Sự kiện vua Lý Thái Tổ rời Hoa Lư đóng đô ở Đại La Thành, đặt tên là Thăng Long vào năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất ( 1010) Nhà Lý phân lại địa giới hành chính, đổi thập đạo thời Đinh thành 24 lộ, đất Thanh Oai thuộc lộ Quốc Oai. Ở triều đại này, địa dư của huyện với tên gọi hương Thanh Oai đã xuất hiện. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển IV, tờ 25 có ghi : “ Năm Trị Bình Long thứ 3, người Man ở núi Tản Viên thuộc châu Quốc Oai đánh phá hương Thanh Oai, quân chúng rất đông..” Theo sách này, năm Trị Bình Long thứ 3 ứng với năm 1179 đời vua Lý Cao Tông ( 1176- 1210).Đến năm 1207 cuối triều vua Lý Cao Tông, địa dư hành chính huyện Thanh Oai chính thức ra đời thuộc lộ Quốc Oai. Theo Đại Namnhất thống chí thì huyện lỵ Thanh Oai lúc đó ở làng Ninh Dương và Thượng Thanh. Qua triều đại nhà Trần đến triều Lê, vào năm Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 ( 1466), vua Lê Thánh Tông phân nước Đại Việt thành 12 đạo Thừa Tuyên. Vùng đất Thanh Oai thuộc Sơn Nam Thừa Tuyên. Đến năm Quang Thuận thứ X ( 1469), khi vua Lê phân định lại địa giới để thống nhất các phủ, huyện, huyện Thanh Oai quản lãnh 12 tổng, 93 xã, thôn, trang, cùng với 3 huyện: Sơn Minh, Chương Đức và Hoài An nằm trong phủ Ứng Thiên của Sơn Nam Thừa Tuyên. Dưới thời Cảnh Hưng, huyện Thanh Oai thuộc phủ Ứng Thiên, Sơn Nam Thượng. Đến đời nhà Nguyễn, theo sách: Các trấn tổng xã danh bị lãm, viết ở triều gia Long khoảng năm 1810-1819) huyện Thanh Oai có 12 tổng, 94 xã, thôn , trang. Sách Đại Nam nhất thống chí, tập 3, trang 169 ghi rõ: “ Huyện Thanh Oai ở cách phủ Ứng Hoà 17 dặm về phía Đông Bắc; Đông Tây cách nhau 11 dặm; Nam Bắc cách nhau 33dặm, phía Đông đến địa giới hai huyện Thượng Phúc - Thanh Trì và phủ Thường Tín 7 dặm, phía Tây đến địa giới huyện Chương Đức 4 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Sơn Minh 20 dặm, phía Bắc đén địa giới huyện Từ Liêm 13 dặm”.Huyện lỵ đầu tiên của Thanh Oai được đặt ở địa phận Thượng Thanh và Ninh Dương. Thành phủ xây dựng khá quy mô theo hình vuông rộng chừng 6 mẫu Bắc Bộ. Thành luỹ đắp bằng đất khá kiên cố và vững chắc, cao từ 3 đến 4 mét, bề mặt rộng chừng 7 mét, chu vi dài chừng 570 mét. Bên ngoài thành có hào sâu rộng, trên mặt thành có một cửa ra vào về phía Namđi thẳng ra đường cái (đường 71 ). Nội thành có hai toà công đường ở trung tâm, có đền Bách Linh ở góc Tây Namdùng để tế lễ và là nơi ban bố các chiếu chỉ sắc phong về các địa phương. Thành còn có trại lính và hai trại giam. Đến năm Gia Long thứ 17 ( 1818 ) triều Nguyễn, huyện lỵ Thanh Oai được tời về đóng tại xã Bảo Đà ( sau đó đổi là Bình Đà ). Như vậy, sách : Các trấn tổng xã danh bị lãm là một bộ sách vô cùng quý giá, là nguồn tư liệu để minh chứng cho toàn bộ vùng đất huyện Thanh Oai trước khi có triều đại nhà Nguyễn.

              Năm 1831, vua Minh Mạng phân lại địa giới, đổi trấn thành tỉnh. Các phủ : Ứng Thiên, Lý Nhân, Thường Tín hợp lại thành tỉnh Hà Nội. Vùng  đất huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên thuộc tỉnh Hà Nội. Đây cũng là thời điểm vua Minh Mạng ra chiếu lệnh khai khẩn ruộng hoang ở những vùng đất mới, do vậy từ giữa thế kỷ XIX trở đi dải đất bên kia sông Đáy ở phía Tây Mai Lĩnh cho tới dầm Ninh Sơn được cư dân làng Kẻ Giả, tổng Thọ Lão, huyện Yên Lạc, trấn Sơn Tây và cư dân của tổng Đồng Dương huyện Thanh Oai, Trí Thuỷ huyện Chương Mỹ đến khai phá xây dựng thành các làng xã Yên Phúc, Yên Thành, Phú Mỹ, Giang Chính .... và thuộc phạm vi quản lý hành chính của tổng Đồng Dương, huyện Thanh Oai.

              Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ép triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt 1884, đất nước ta lại rơi vào ách thống trị của ngoại bang. Sự kiện năm 1888, nhà Nguyễn cắt vừng đất Thọ Xương, Vĩnh Thuận ( Hà Nội ) cho Pháp làm nhượng địa. Năm 1896 , Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định về việc lỵ sở Hà Nội  chuyển về làng Cầu Đơ, đất huyện Thanh Oai. Năm 1902, tỉnh Hà Nội cắt phần đất phía đông Nam lập thành tỉnh Cầu Đơ, đến năm 1904 đổi là tỉnh Hà Đông. Thanh Oai là một huyện của tỉnh Hà Đông. Cũng ở thời điểm này, thực dân Pháp cho mở con đường giao thông số 6 từ Hà Nội đi Cầu Đơ đã chạy qua một số làng xã của Thanh Oai như Ba La , Do Lộ, Mai Lĩnh , Yên Phúc , Yên Thành rồi đi lên Chúc Sơn, Xuân Mai  ( Chương Mỹ ), Hoà Bình. Địa bàn huyện Thanh Oai liền kề và bao quanh thị xã Hà Đông từ phía Bắc Đông Bắc qua phía Đông tới phía TâyNam. Theo tài liệu điều tra của thực dân Pháp, địa dư hành chính huyện Thanh Oai gồm 12 tổng, với 110 làng, 11 xóm. Diện tích toàn huyện là 16.000 ha, dân số hơn 112.000 nghìn người, đều là dân tộc Kinh.

              Sau Cách mạng tháng 8 -1945, địa dư hành chính huyện Thanh Oai từng bước có sự biến động do việc mở rộng thị xã Hà Đông ở các thời kỳ lịch sử. Giữa năm 1946, các làng Cầu Đơ, Hà Trì, Văn Quán vốn thuộc vùng đất Thanh Oai được chuyển giao về thị xã. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( 1946 -1954 ) , khi thị xã Hà Đông bị giặc chiếm đóng ( 3 - 1947 ), huyện Thanh Oai chuyển về Hà Nội lúc đầu thuộc Liên quận huyện V sau đó hợp nhất với Thanh Trì thành huyện Liên Nam, từ tháng 5 -1948 đến 10 -1948, Thanh Oai thuộc tỉnh Lưỡng Hà do sự hợp nhất tỉnh Hà Đông và Hà Nội, đến tháng 10 -1948 lại trở về tỉnh Hà Đông và hợp nhất với huyện Thanh Trì thành huyện Liên Nam. Để tái lập và mở rộng địa bàn thị xã Hà Đông, tháng 5 - 1949 các thôn Yên Phúc, Xa La, Yên Xá, Triều Khúc, Đa Sỹ, Mậu Lương là đất huyện Thanh Oai lại tiếp tục chuyển về thị xã .

              Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thắng lợi, tháng 2 - 1955 , Uỷ ban hành chính Liên khu III quyết định tách huyện Liên Nam , tỉnh Hà Đông trở về thành hai đơn vị hành chính là : huyện Thanh Oai và huyện Thanh Trì, đồng thời phân lai địa bàn thị xã . Xã Kiến Hưng có hai thôn : Đa Sỹ, Mậu Lương trở về huyện Thanh Oai. Năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây. Thanh Oai là một trong số 17 huyện thị của tỉnh. Đến tháng 4- 1970, địa bàn xã Kiến Hưng được chuyển giao về thị xã Hà Đông và cuối những năm 70, xã Hữu Hoà được chuyển giao về huyện Thanh Trì.

              Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta giành thắng lợi, đất nước được thống nhất. Năm 1976, hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình. Thanh Oai là một trong số 24 huyện, thị xã của tỉnh Hà Sơn Bình. Tháng 10 -1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách ra trở về thành hai tỉnh cũ. Tháng 6 năm 1994, thành lập thị trấn Kim Bài, toàn huyện có 24 xã và 1 thị trấn . Để mở rộng thị xã Hà Đông trong sự nghiệp công nghiệp hoá  và hiện đại hoá đất nước ngày 1-12-2003, hai xã Phú Lương và Phú Lãm và tháng 3-2006 xã Biên Giang, Đồng Mai được tách ra từ huyện Thanh Oai để nhập vào thị xã Hà Đông. Đến tháng 4 -2006, huyện Thanh Oai có 21 xã và một thị trấn, đó là các xã : Bích Hoà, Cao Viên, Thanh Cao, Cự Khê, Mỹ Hưng, Bình Minh, Thanh Mai, Tam Hưng, Thanh Thuỳ, Thanh Văn, Tân Ước, Liên Châu, Đỗ Động, Kim An, Kim Thư, Dân Hoà, Phương Trung, Hồng Dương, Cao Dương, Xuân Dương, và Thị trấn Kim Bài. Ở thời điểm này, huyện Thanh Oai có diện tích là 12.381,46 ha, trong đó có 8.767,98 ha canh tác, dân số có 169.089 người.

              Như vậy, kể từ thời điểm năm 1207 huyện Thanh Oai ra đời ở triều Lý Cao Tông cho đến năm 2007 là 800 năm. Trong khoảng thời gian gần một thiên niên kỷ, địa bàn huyện Thanh Oai chẳng những được hình thành mà còn có những biến động về địa dư quản lý hành chính theo từng thời gian và tiến trình của công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước. Song dù ở thời đại lịch sử nào thì vùng đất Thanh Oai vẫn là một địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp, có bề dầy bản sắc văn hoá, có vị trí quan trọng về quân sự.

              Về đường bộ, Thanh Oai có các tuyến đường giao thông quan trọng. Phía Bắc huyện có đường quốc lộ số 6 từ Thủ đô Hà Nội chạy qua thị xã Hà Đông, Ba La, Do Lộ, Mai Lĩnh, Biên Giang với chiều dài 8 km rồi vào Xuân Mai đi Hoà Bình và vùng Tây Bắc của Tổ quốc. Đường 22 ( này là quốc lộ 21 B ) khởi đầu từ đường quốc lộ số 6 ở vị trí Ba La chạy dọc theo huyện từ Bắc xuống Nam dài gần 20 km. Con đường này nối Thanh Oai với các huyện Ứng Hoà, Mỹ Đức rồi đi vào Chợ Bến ( Hoà Bình ) hoặc xuống chợ Dầu tỉnh Hà Nam. Ngoài ra ở phía Tây huyện có đê sông Đáy cũng là một tuyến giao thông quan trọng . Đê Đáy từ phía Hoài Đức qua Do Lộ đến Mai Lĩnh gặp đường 6 rồi chạy xuống phía Nam huyện gặp đường 71 ở Thanh Cao, đường 73 ở Dốc Mọc, qua địa phận xã Xuân Dương rồi đi xuống huyện Ứng Hoà.

              Ở giữa huyện có đường 71 ( nay là đường 427 ) chạy theo hướng Tây - Đông , nối đê Đáy ở Thanh Cao với đường 22 ở Bình Đà, sông Nhuệ ở Cầu Chiếc, đường quốc lộ số 1 ở huyện lỵ Thường Tín. Phía cuối huyện có đường 73 nối liền đường 22 ở Ngã Tư Vác với đê sông Đáy ở Dốc Mọc rồi vượt qua cầu Ba Thá bắc trên dòng sông Đáy để đi vào Miếu Môn gặp đường quốc lộ 21 A . Qua phía Nam huyện , đoạn đường 22 ở Quảng Nguyên chạy qua Đồng Quan gặp quốc lộ số 1 ở Tía. Các tuyến đường 6; 22; 73; 71 và đê sông Đáy đều thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế từ Thanh Oai ra các vùng, nhất là vào thị xã Hà Đông, ra Hà Nội và ngược lại.

              Các tuyến đường bộ, thuỷ như đê Đáy, đường 22, sông Nhuệ lại chạy song song theo hướng Bắc Nam hợp điểm với các trục đường chạy theo hướng Đông - Tây như đường 70 ( Hà Đông đi Cầu Tó ), đường 71 , đường 73, đường 6 ( Ba La đi Mai Lĩnh ) dẫn đến sự phân lô địa bàn huyện thành các khu vực mà mỗi khu có những vị thế khác nhau. Sự phân chia hợp điểm đó đã tạo cho địa bàn huyện có những ngã ba, ngã tư, đó là các trọng điểm quân sự, kinh tế then chốt như : Mai Lĩnh, Ba La , Bình Đà, Cầu Chiếc, Ngã Tư Vác, Dốc Mọc. Điều đáng chú ý là đặc trưng của địa bàn huyện có độ chênh từ Tây sang Đôn, từ Bắc xuống Nam. Chính vì vậy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tỉnh uỷ Hà Đông đã chọn địa bàn phía ĐôngNamhuyện Thanh oai để mở khu du kích. Khu du kích Nam Thanh Oai là địa bàn đứng chân vững chắc không chỉ cho huyện và tỉnh mà còn cho cả lực lượng kháng chiến của Hà Nội.

              Với địa bàn và hệ thống giao thông thuỷ bộ như vậy, xét cả về quân sự và kinh tế, Thanh Oai là cửa ngõ đi vào kinh thành Thăng Long ( nay là thủ đô Hà Nội ) và thị xã Hà Đông, đồng thời là cầu nối để sang các huyện khác ở trong và ngoài tỉnh.

              Do có độ chênh lệch của đồng đất nên đặc điểm đất nông nghiệp của Thanh Oai là hình thành 3 vùng : Vùng đất bãi ven sông Đáy có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi. Vùng đất nằm ven đường 22 thuộc đất đồng vàn có thuận lợi cho cả cấy lúa và trồng hoa màu. Vùng đồng chiêm trũng chiếm phần lớn diện tích canh tác chỉ gieo cấy hai vụ lúa và chăn nuôi thuỷ sản. Nhìn chung đồng đất Thanh Oai có nhiều khả năng phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện . Thanh Oai cũng là một vựa lúa trên địa bàn tỉnh. Một số đầm hồ lớn như : đầm Thượng Thanh, Đàn Viên, Mộc Xá ..... còn có lợi thế phát triển chăn nuôi, thuỷ sản và du lịch.

              Cư trú ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, cư dân trên địa bàn huyện chủ yếu là dân tộc Kinh. Đạo phật là gốc rễ trong sự tín ngưỡng của nhân dân. Đạo thiên chúa du nhập trên địa bàn huyện chủ yếu từ nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, có một số nhà xứ, nhà thờ lớn như : Thạch Bích, Từ Châu, Kim Lâm, Văn Quán, Trình Xá, Canh Hoạch, Chuông. Số đồng bào theo đạo Thiên chúa tính ở thời điểm năm 1954 khoảng gần 9% dân số trong huyện.

              Từ bao đời nay, nhân dân Thanh Oai sinh sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng. Cây lúa là lương thực chủ yếu ở Thanh Oai. Bên cạnh trồng ngô, khoai , rau màu ở vùng ven Đáy, thì cây khoai tây thâm nhập vào Thanh Oai cũng rất sớm, nhất là ở các làng Thượng Thanh, Cao Mật, Thanh Thần. Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, một vài làng ở cùng đê Đáy có nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệ lụa, vì vậy trong gia đình có sự phân công lao động, nam thì gánh vác công việc đồng áng, nữ thì canh cử ươm tơ, dệt lụa. Nhiều làng xã ở trong hyyện có các nghề thủ công như : làm quạt, đan lồng chim, đục đẹo tượng phật và đồ thờ cúng ở Dân Hoà , Sơn mài ở Huyền Kỳ; nghề pháo ở Bình Đà, Thượng Thanh ; làm vòng nón ở Chuông, Cao Xá. Nhiều làng trong huyện có nghề thêu ren. Một số hộ trong các làng xã còn phát triển làm gạch ngói, nung vôi, thợ mộc, thợ nề. Đặc biệt là nghề làm pháo ở Bình Đà, Thượng Thanh đã vang truyền trong cả nước. Một số nhà tu sản thời Pháp thuộc như : Phú Mỹ ( lập xưởng pháo ở Bình Đà ) , Phạm Lê Bổng ( mở ở Nhật Tân ),  Pê tô người Ý mở ở Đáp Cầu đều phải mời chuyên gia nghề pháo ở Thanh Oai là kỹ thuật và tuyển dụng thợ ở Bình Đà, Thượng Thanh để sản xuất. Cuộc thi năm 1973 ở Đấu Xảo ( Hà Nội ), pháo Bình Đà do cụ Nguyễn Bá Ngữ làm kỹ thuật đạt giải Nhất, pháo Nhật Tân do cụ Nguyễn Bá Sửu người Thanh Thần làm kỹ thuật đạt giải Nhì.

              Trên địa bàn huyện , từ xa xưa đã hình thành các thợ ở từng vùng để giao lưu buôn bán hàng hoá của nhân dân. Theo sách : Dư địa chí Hà Tây, huyện Thanh Oai có 15 chợ. Một số chợ lớn có tiếng ở trong vùng như : chợ Mai Lĩnh (Đồng Mai ) Chợ Bộ ( Cao Bộ ), chợ Tư ( Bình Đà ), chợ Sốm ( Thị Thôn ), Chợ Nâu ( Bạch Nao ) Chợ Lựa ( Tiên Lữ ) chợ Chuông ( Phương Trung ), chợ Cao ( Thị Nguyên ) ..... Những chợ đó là thị trường của nông thôn đáp ứng yêu cầu mua bán sản phẩm nông nghiệp vật tư phục vụ sản xuất, hàng tiêu dùng của nhân dân.

              Cư trú ở một địa bàn có bề dầy nền văn hoá. Trên địa bàn huyện , nhiều ngôi đình chùa có tiếng ở trong vùng như : Chùa Bối Khê ( Tam Hưng ), chùa Ngọc Đình ( Hồng Dương ), đình và chùa Chuông ( Phương Trung ), miếu và đình Đôn Thư ( Kim Thư ), đình Khê Tang ( Cự Khê ), đình và chùa Bình Đà ( Bình Minh ), đền Vỹ ( Cao Viên )..... Các ngôi đình ở Thanh Oai đều lấy những người có công với nước, với dân để thờ làm Thành hoàng. Các ngôi chùa đều thờ phật. Chùa Bối Khê ( Tam Hưng ) còn thờ Thiền sư Nguyễn Bình An thời Trần. Các ngôi đình, chùa đều mang đạm dấu ấn nền kiến trúc độc đáo ợ vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhiều ngôi đình, chùa, được Bộ Văn Hoá - Thông tin và Sở Văn Hoá - Thông Tin tỉnh công nhận và xếp hạng di tích.

              Cùng với hệ thống đình, chùa là lễ hội hàng năm ở các làng xã vào những mùa xuân. Lễ hội ở Thanh Oai gồm cả phần lễ và phần hội càng minh chứng về bề dầy bản sắc văn hoá trong cộng đồng dân tộc. Bên cạnh, Thanh Oai còn vùng đất có truyền thống hiếu học.Sách : Người Hà Tây trong làng Khoa Bảng, toàn tỉnh có 338 vị đỗ Tiến sĩ thì Thanh Oai có 50 vị vào diện thứ hai đứng sau Thường Tín. Toàn tỉnh có 5 vị Trạng nguyên thì huyện Thanh oai có 3 vị, trong đó làng Canh Hoạch, làng duy nhất của cả nước có 2 vị , đó là Trạng cậu Nguyễn Đức Lượng thi đỗ năm 1514 và Trạng cháu là Nguyễn Thiến thi đỗ năm 1532. Ở Canh Hoạch 9 Dân Hoà ) còn có dòng họ Nguyễn có một gia đình : Cha , con và cháu nội đều đỗ Tiến sỹ hoặc Trạng nguyên, đó là : Phạm Bá Ký, đỗ Tiến sỹ năm 1463; đời con chuyển họ Phạm thành họ Nguyễn là Nguyễn Đức Lượng, đỗ Trạng nguyên năm 1514; cháu nội là Nguyễn Khuông Lễ, đỗ Tiến sỹ khoa thi năm 1535. Trong số các làng khoa bảng ở Thanh Oai thì Canh Hoạch có 6 vị, Kim Bài có 5 vị, Bối Khê có 4 vị, Đại Định 4 vị, Cao Mật 3 vị, Bình Đà, Cát Động, Đôn Thư, Đồng Dương mỗi làng có 2 vị. Đó là  chưa kể hai làng Đa Sỹ, Mậu Lương từ năm 1970 mới chuyển về thị xã Hà Đông. Các nhà khoa bảng ở Thanh Oai chẳng những là nhân tài, vốn quý của quốc gia mà còn làm sáng chói bản sắc nền văn hoá của nhân dân trong huyện, mà dòng văn, tho Phan Huy ở Tả Thanh Oai, Vũ Phạm Hàm ở Đôn Thư cũng là những minh chứng.

              Cùng với chiều dài bản sắc văn hoá là truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm xây dựng và bảo vệ nền độc lập dân tộc, nhất là trong lịch sử đấu tranh chống các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược.

              Từ thời các vua Hùng dựng nước, vùng đất Thanh Oai đã ghi những dấu ấn về chống giặc ngoại xâm. Đình Thị Nguyên, xã Cao Dương với những trang ngọc phả lưu truyền về công lao cuar Hiền Hựu, Ứng Thiên, Ứng Đạo ( con vua Hùng thứ 17 ) đã anh dũng chống lại âm mưu : Bắc cự hung nô, Nam bình bách việt : của các triều đại phong kiến phương Bắc. Những năm đầu công nguyên, trong cuộc khởi nghĩa do hai nữ anh hùng họ Trưng lãnh đạo chống quân Nam Hán, đất Thanh Oai có Á Lanh ơ Nga My, có 307 nghĩa binh vùng Thượng Thanh, Cao Bộ do đại nguyên soái Cai Công chỉ huy đẫ chiến đấu kiên cường. Có Đỗ Cảnh Thạc là một dũng tướng của Ngô Quyền trong công cuộc giành lại độc lập dân tộc.

              Đáng chú ý là từ khi Lý Thái Tổ rời đô về kinh thành Thăng Long thì sức người, sức của của nhân dân Thanh Oai ngày càng được phát huy trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

              Ở Triều đại nhà Trần với ba lần chiến thắng giặc Nguyên đều có sự đóng góp to lớn, tích cực của nhân dân Thanh Oai. Đội quân của Trần Thông một tướng của họ Trần với 232 nghĩa binh phần đông là trai tráng vùng Cự Đà, Khúc Thuỷ đã chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công được Hưng Đạo Vương nhiều lần khen ngợi.

              Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi khởi xướng, vùng đất Thanh Oai đã nổi tiếng với trận phục kích ở Cổ Lãm của hai tướng Lý Triện, Đỗ Bí với hơn 1.000 tên giặc bị chết. Trên đất Biên Giang, di tích miếu Ông Già thờ tướng quân Lý Triện còn gắn với trận chiến vang dội ở Ninh Kiều, Chúc Động, Tốt Động góp phần quan trọng vào giải phóng Đông Đô, quét sạch quân Minh ra khỏi bờ cõi.

              Năm 1858, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Thanh Oai cũng rất sôi nổi,  Nhiều làng xóm trong huyện đã tự đứng lên đánh giặc giữ làng. Các cuộc chiến đấu của nhân dân xã Dân Hoà do Quản Năm - Hiệp Như, của Quách Văn Cả ( tức Chánh cả ) xã Xuân Dương và của Bang Thông , người làng Trình Xá đã làm cho quân Pháp, quân Triều đình nhiều phen tổn thất . Hoàng Cao Khải tên tay sai số một của thực dân Pháp đã phải trực tiếp cầm quân càn quét  đánh phá nhiều tháng ròng rã trên địa bàn huyện mới bình định được tình hình.  

              Đầu thế kỷ XX,Ở Thanh Oai cũng có một số nhà tâm huyết ở Cao Bộ, Bình Minh đã tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, có cụ theo phong trào Đông Du tham gia ViệtNamquang thục hội do nhà ái quốc Phan Bội Châu tổ chức. Các cụ hăng hái vận động mở mang công nghệ, dùng hàng nội hoá, mở lớp dạy chữ quốc ngữ, bài trừ hủ tục..... nhằm mở mang dân trí, mưu sự đánh Pháp giành độc lập cho đất nước.

              Với truyền thống ấy, nhân dân Thanh Oai đã nhiều lần được đón Bác Hồ về thăm:

     Lần thứ nhất: Từ tối 19-12-1946 đến 13-1-1947 Bác Hồ về ở và làm việc tại nhà anh Nguyễn Huy Chúc thôn Xuyên Dương xã Xuân Dương, Bác còn đến thăm Huyện uỷ Thanh Oai.

              Lần thứ hai: Sáng mồng một tết Đinh Dậu ( 31-1-1957) Bác đã đến thăm và chúc tết trại Kim Đồng tại xã Biên Giang (sau này thuộc địa bàn xã Phụng Châu), nơi nuôi dưỡng gần 500 trẻ mồ côi.

              Lần thứ ba: Ngày 31-10-1959, Thanh Oai được đón Bác nhân dịp Bác về thăm hội nghị rút kinh nghiệm công tác quản lý hợp tác xã nông nghiệp toàn miền Bắc họp tại xã Phương Trung.

              Lần thứ tư: Ngày 2-12-1959, Bác về thăm đồng bào giáo dân thôn Thạch Bích và Hợp tác xã số 1 xã Bích Hoà. Bác căn dặn: Đồng bào lương, giáo đều phải đoàn kết để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, để xây dựng Hợp tác xã và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

              Lần thứ năm: Ngày 7-10-1961, nhân dịp Bác về thăm và nói chuyện về Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Đảng (khoá III) với cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức.

              Lần thứ sáu: Ngày mùng 1 Tết Bính Ngọ (21-1-1966), sau khi thăm và chúc tết Hợp tác xã Văn Phú (Hà Đông) và Trung đội súng máy phòng không của Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 136 bộ đội tên lửa tại đê Mai Lĩnh (Đồng Mai), Bác lại về thăm và chúc tết trại Kim Đồng tại Biên Giang. Bác còn đến thăm Tiểu đoàn 27 bộ đội công binh (Quân khu III) ở bến phà Mai Lĩnh.

              Lần thứ bảy: Sáng mùng 2 Tết Đinh Mùi (10-2-1967), Bác Hồ đã về thăm và chúc tết nhân dân thôn Tảo Dương, xã Hồng Dương là nơi chỉ đạo điểm của Tỉnh uỷ, của Ban Nông nghiệp Trung ương. Cùng đi với Bác có đồng chí Trần Quốc Hoàn, Uỷ viên Bộ Chính Trị; đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng.  

                Cùng với chiều dài bản sắc văn hoá và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, huyện Thanh Oai đã có tới 130 bà mẹ ViệtNamanh hùng. Có 3 Trạng nguyên, 54 Tiến sĩ, Hàng nghìn người con Thanh Oai đã anh dũng ngã xuống vì tự do của Tổ quốc. Trải qua gần một ngàn năm truyền thống lịch sử, văn hiến và cách mạng vùng đất và con người Thanh Oai là nơi tụ hội và sản sinh ra nhiều nhân tài, góp phần rạng danh lịch sử dân tộc. Ngành giáo dục đào tạo Thanh Oai luôn noi gương, tiếp bước những trang sử vẻ vang ấy. Công tác Giáo dục, văn hoá xã hội Thanh Oai tiếp tục tiến bước và phát triển một cách vững chắc hướng về 1000 năm Thăng Long Hà Nội ./.

                                                                      Thanh Oai ngày 15 tháng 4 năm 2010

                                                                        

             

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thị Huyền Sâm @ 15:28 13/10/2013
    Số lượt xem: 335
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.